Vấn đề tương phối của mệnh trạch

Vấn đề tương phối của mệnh trạch

Nội dung bài viết:

Vấn đề tương phối của mệnh trạch

Nếu như Lưu niên cát tinh (sao tốt) chiếu đến đúng vị trí cát của chủ nhân thì cát lại càng thêm cát. Nêu như Lưu niên cát tinh chiếu đến đúng vị trí hung của chủ nhân, thì cát sẽ giảm đi, nhưng vẫn còn cát. Còn nếu như Lưu niên hung tinh chiếu đến vị trí cát của chủ nhân thì hung sẽ giảm đi. Trường hợp xấu nhất là đã hung lại chiếu vào vị trí hung, thì chủ nhân hung lại càng thêm hung.
Ví dụ 1: Năm Quý Dậu (1993), Lưu niên tử bạch phi tinh (sao tím và sao trắng), sao bát bạch (8 sao trắng) bay đến hưống Tây Bắc (hướng Càn), đây là ngôi sao cát (tốt), gia chủ vận khí thông suốt. Nếu như chủ nhà tuổi Dần và tuổi Ngọ thì mỏ cửa chính ở vị trí Tuất, tức là nữ ỏ vị trí Tam hợp quý, thì đã cát lại càng thêm cáL đã giàu thêm giàu, đã thăng chức lại cồn thăng chức cao hơn, đại tài đại phúc. Còn người tuổi Thìn, nếu cũng mỏ cửa ở vị trí Tuất, thì lại là vị trí Lục xung sát, chủ nhà tuy cũng gặp thuận lợi, song vẫn còn trắc trở, kiếm được nhiều tiền nhưng hao tổn vì tiền cũng không nhỏ (xem hình 7).

Hình 7: Năm Quý Dậu 1993 – tuổi Dậu lưu niên tử bạch phi
tinh đồ.

Ví dụ 2: Năm Giáp Tuất 1994, Lưu niên tử bạch phi tinh, Ngũ hoàng (5 sao vàng) bay đến hướng Đông Nam (hướng Tốn), đây là ngôi sao xấu, gia chủ mắc bệnh ốm đau triền miên. Nếu như người tuổi Dậu và Sửu, mỏ cửa chính ở vị trí Tỵ, đây là vị trí Tam hợp quý, tức là tăng thêm cát để giảm thiểu, khống chế hung đến mức thấp nhất. Nếu như cũng trong năm
Thái tuế này, gia chủ đã qua vài trận ốm rồi, thì công tác sẽ đỡ vất vả hơn, ít bị trỏ ngại hơn (xem hình 8)
Giả sử, người tuổi Hợi vào tuổi Thái tuế, mở cửa chính ỏ Tỵ, là vị trí Lục hung sát của gia chủ, như vậy đã xấu càng thêm xấu, cần đề phòng bất trắc xảy ra.

Hình 8: Năm Giáp Tuất 1994 – tuổi Tuất lưu niên tứ bạch
phi tinh đổ.

Cách tính niên mệnh và trạch mệnh theo phong tnuỷ Bát trạch
Phái Bát trạch để có thể chiếm được địa vị hàng đầu trong nền phong thuỷ học truyền thống Trung Quốíc, là bỏi trường phái này đã hệ thống hoá, giản hoá các lý luận phong thuỷ phức tạp trở nên đơn giản dễ hiểu hơn, quy nạp thành những luận điểm mà mọi người đều có thể tiếp nhận được một cách dễ dàng, khái quát tạo nên những tri thức mang tính chất tổng kết, để từ đó có thể thâm nhập vào hệ thống lý luận phong thuỷ.
Căn cứ vào phương vị của Hậu thiên Bát quái và năm sinh mà phái Bát trạch chia niên mệnh của con người thành 8 loại (tương ứng với 8 quẻ Bát quái), mặt khác, căn cứ vào phương vị của Hậu thiên Bát quái và toạ sơn của nhà ỏ để chia trạch mệnh thành tám loại (tương ứng với tám quẻ Bát quái). Cụ thể như sau:
– Niên mệnh: Phái Bát Trạch đã sử dụng cặp can chi của năm sinh kết hợp với Bát quái để khái quát thành 8 loại niên mệnh hay mệnh quái, đó chính là: mệnh Càn, mệnh Khôn, mệnh Khảm, mệnh Tốn, mệnh Chấn, mệnh Ly, mệnh Cấn, mệnh Đoài. Và bất cứ người nào, dù sinh vào năm tháng nào, là nam hay nữ, đều có thể quy nạp vào “bát mệnh” trên. Tám loại niên mệnh này còn được chia thành Đông tứ (bốn mệnh đông) và Tây tứ (bốn mệnh tây). Cách phân chia này dựa trên cơ sở nguyên lý “trung phối hợp” và “lão thiếu phối hợp” của Tiên thiên Bát quái. Trong tám quẻ của Bát quái, Càn là lão phụ (cha), Khôn là lão mẫu (mẹ), Cấn là thiếu nam (con trai út), Đoài là thiếu nữ (con gái út); “Lão thiếu phôi hợp” là Tây tứ mệnh, tức: Càn, Khôn, Cấn Đoài. Chấn là trưởng nam (con trai cả), Tốn là trưởng nữ (con gái cả), Khảm là trung nam (con trai thứ), Ly là trung nữ (con gái thứ); “Trung phôi hợp” là Đông tứ mệnh, tức là: Chấn, Tổn, Khảm, Ly.
– Trạch mệnh: Chữ “Trạch” trong “Bát trạch” chỉ “mệnh trạch” (mệnh của nhà ở). Mệnh của trạch được xác định dựa vào vị trí hưống của căn nhà, tức phương vị mà căn nhà dựa lưng vào. Phối hợp 8 phương vị với Bát quái, có Ly chính Nam, Khảm chính Bắc, Đoài chính Tây, Chấn chính Đông, Càn là Tây bắc, Tốn là Đông nam, Khôn là Tây nam, Cấn là Đông bắc. Bởi vậy, mệnh của trạch cũng gồm “bát mệnh” là: Càn, Khôn, Khảm, Tốn, Chấn, Ly, Cấn, Đoài. Tương tự như niên mệnh, 8 loại trạch mệnh này cũng được chia thành Tây tứ mệnh, tức trạch mệnh là Càn, Khôn, Cấn, Đoài, và Đông tứ mệnh, túc trạch mệnh là Chấn, Tốn, Khảm,
Ly.
Lý luận căn bản của phái Bát trạch quy định: Người thuộc Đông tứ mệnh thì nên ở nhà Đông tứ trạch, người Tây tứ mệnh thì nên ở nhà Tây tứ trạch, nhu’ vậy mới là hợp .mệnh hợp trạch, sẽ có nhiều thuận lợi, gia đình mối cát tường. Nếu làm trái với nguyên tắc này, sẽ gặp nhiều bất lợi trong cuộc sống, thậm chí có thể gặp nhiều tai ương hoạ hại.
Các nhà phong thuỷ cho rằng, người Đông tứ mệnh sinh vào các năm: Chấn, Ly, Tốn, Khảm thì chỉ có thê ở Đông tứ trạch có toạ hướng Chấn, Ly, Tốn, Khảm. Còn những người Tây tứ mệnh sinh vào các năm: Càn, Đoài, Cấn Khôn chỉ có thể sống ỏ Tây tứ trạch có toạ hướng Càn, Đoài, Cấn, Khôn.
Sô” tương ứng vói mệnh đó là: Khảm 1, Khôn 2, Chấn 3, Tổn 4, Trung 5, Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9.
Chúng tôi xin giới thiệu một cách tính đơn giản như sau: Lấy các số’ của năm sinh cộng với nhau, và tiếp tục cộng cho đến khi thành một số đơn nhỏ hơn 10. Nếu là nam, thì lấy 11 trừ đi số tìm được, rồi căn cứ vào sô’ này để tìm ra cung mệnh. Nếu là nữ, lấy 4 cộng /ó’i sô’ tìm được, nếu số đó lớn hơn 10 thì tiếp tục cộng hai số’ lại để thành số’ đơn, căn cứ vào số’ này để tìm ra cung mệnh. Ví dụ: Nam sinh năm 1969 =l+9+6+9= 25; 2 + 5 = 7; 11-7 = 4, chiếu theo quy tắc trên là mệnh Tốn; Nữ sinh năm 1969 = l + 9 + 6 + 9 = 25; 2 + 5 = 7; 4 + 7 = 11; 1 + 1 = 2, chiếu theo quy tắc trên là mệnh Khôn.
Khi đã xác định được trạch mệnh của căn nhà, sẽ căn cứ vào trạch mệnh đó để suy ra các hướng cát và hướng hung của nhà ỏ. Phái Bát trạch chia một căn nhà thành 8 phương vị, mỗi phương vị tương ứng với một tính chất khác nhau. Tám phương vị này lần lượt là. Phục vị, Sinh khí, Diên niên, Thiên y, Lục sát, Ngũ quỷ, Hoạ hại, Tuyệt mệnh. Trong đó, Sinh khí là Tham lang Mộc tinh, thượng cát; hướng cát Diên niên là Vũ khúc Kim tinh, thượng cát; hưống cát Thiên y là Cự môn Thổ tinh, trung cát; hưống cát Phục vị là Phụ bật Mộc t:.,ah, tiểu cát; hướng hung Tuyệt mệnh là Phá quân Kim tinh, đại hung; hướng hung Ngũ quỷ là Liêm trinh Hoả tinh, đại hung; hướng hung Hoạ hại là Lộc tồn Thổ tinh, trung hung; hưống hung Lục sát là Văn khúc Thuỷ tinh, tiểu hung.
+ Các hướng cát như Sinh khí, Diên niên, Thiên y, Phục vị nên trổ cổng, cửa, đặt phòng khách, phòng ngủ, xây cao lớn.
+ Các hướng hung Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ, Hoạ hại, Lục sát không nên làm cổng cửa, đặt phòng khách, phòng ngủ, không nên xây cao lớn, nên đặt nhà vệ sinh, Ống khói hoặc các đồ vật để trấn áp.
Để tính toán các phương vị cát hung tương ứng cho mỗi trạch mệnh, có thể sử dụng bài vè “Du niên ca” sau đây:
DU NIÊN CA
Càn Lục Thiên Ngũ Hoạ Tuyệt Diên Sinh;
(Khảm Cấn Chấn Tốn Ly Khôn Đoài)
Khảm Ngũ Thiên Sinh Diên Tuyệt Hoạ Lục;
(Cấn Chấn Tốn Ly Khôn Đoài Càn)
Cấn Lục Tuyệt Hoạ Sinh Diên Thiên Ngũ;
(Chấn Tốn Ly Khôn Đoài Càn Khảm)
Chấn Diên Sinh Hoạ Tuyệt Ngũ Thiên Lục;
(Tốn Ly Khôn Đoài Càn Khảm Cấn)
Tốn Thiên Ngũ Lục Hoạ Sinh Tuyệt Diên;
(Ly Khôn Đoài Càn Khảm Cấn Chấn)
Ly Lục Ngũ Tuyệt Diên Hoạ Sinh Thiên;
(Khôn Đoài Càn Khám Cấn Chấn Tôn)
Khôn Thiên Diên Tuyệt Sinh Hoạ Ngũ Lục;
(Đoài Càn Khảm cấn Chấn Tốn Ly)
Đoài Sinh Hoạ Diên Tuyệt Lục Ngũ Thiên;
(Càn Khảm Cấn Chấn Tốn Ly Khôn)
Chú thích:
Bài vè “Du niên ca” trên đây dùng để đoán định vận sô’ cát – hung dựa trên phương vị cửu tinh. Các khái niệm Phục, Lục, Thiên, Ngũ, Hoạ, Tuyệt, Diên, Sinh xuất hiện trong bài vè là tên gọi tắt của những sao Phục: Phục vị, Lục: Lục sát, Thiên: Thiên y, Ngũ: Ngũ quỷ, Hoạ: Hoạ hại, Tuyệt: Tuyệt mệnh, Diên: Diên niên, Sinh: Sinh khí.
Các cung tương ứng với các phương vị như sau: Khảm 1 Bắc, Khôn 2 Tây nam, Chấn 3 Đông, Tốn 4 Đông nam, Trung 5 chính giữa, Càn 6 Tây bắc, Đoài 7 Tây, Cấn 8 Đông bắc, Ly 9 Nam.
Mỗi câu của bài vè liệt kê các phương vị lành – dữ của mỗi cung mệnh. Như câu đầu tiên “Càn Lục Thiên Ngũ Hoạ Tuyệt Diên Sinh”, ý nói nhà toạ hướng Càn, thì Càn sẽ là Phục vị, đếm ngược chiều kim đồng hồ sẽ là Khảm = Lục sát, Cấn = Thiên y, Chấn = Ngũ quỷ, Tôn = Hoạ hại, Ly = Tuyệt mệnh, Khôn = Diên niên, Đoài = Sinh khí. Những câu còn lại cũng tương tự như vậy. Bởi vậy, “Bát trạch minh kính” đã đem từng câu của “Du niên ca” đốỉ chiếu vối các phương vị tương ứng để tiện theo dõi. Trước kia “Du niên ca” thường được khắc trên mặt sau của la bàn, để các thầy địa lý, thầy tưống sô’ dễ dàng áp dụng.

Xem thêm: Ban nha Ha Noi gia 1 ty

Bình luận đã bị đóng.